CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TRUNG TÂM XÚC TIẾN ĐẦU TƯ PHÍA BẮC

Video

Điện Biên

I) Tổng quan về Điện Biên:

1) Vị trí địa lý:
- Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc, có tọa độ địa lý từ 20054’- 22033’ vĩ độ Bắc và 102010’ - 103036’ kinh độ Đông; phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu mới, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Cách thủ đô Hà Nội khoảng 500km đường bộ.
- Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Trung Quốc và Lào, trong đó biên giới với Lào dài 360 km và biên giới với Trung Quốc dài 38,5 km. Trên tuyến biên giới Việt - Lào có 2 cửa khẩu đã được mở là Huổi Puốc và Tây Trang, còn 3 cửa khẩu phụ khác sắp tới sẽ được mở. Trên tuyến biên giới Việt - Trung sẽ mở và nâng cấp cửa khẩu A Pa Chải - Long Phú thành cửa khẩu quốc gia. Là đầu mối giao lưu của vùng Tây Bắc Việt Nam với các tỉnh Bắc Lào và Tây Nam Trung Hoa.
2) Địa hình:
Do ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo nên địa hình của Điện Biên rất phức tạp, được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200m đến hơn 1.800 mét. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông. Ở phía Bắc có các điểm cao 1.085m, 1.162m và 1.856m (thuộc Mường Nhé), cao nhất là đỉnh Pu Đen Đinh cao 1.886m. Ở phía Tây có các điểm cao 1.127m, 1.649m, 1.860m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo. Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bố khắp nơi trên địa bàn tỉnh, trong đó đáng kể có thung lũng Mường Thanh rộng hơn 150 km2, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây Bắc.
3) Khí hậu, thời tiết:
Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 - 230C, Lượng mưa hàng năm tương đối cao, trung bình từ 1.700 - 2.500mm nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và chiếm tới 80% lượng mưa cả năm. Các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau và chỉ chiếm khoảng 20% lượng mưa hàng năm. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 80 - 85%. Số giờ nắng hàng năm bình quân từ 1.580 -1.800 giờ.
II) Tổ chức hành chính, chỉ tiêu kinh tế và nguồn nhân lực:

1) Nguồn nhân lực:
1.1. Dân số:
Dân số trung bình năm 2009 của tỉnh Điện Biên là 491.064 người, mật độ dân số bình quân 51 người/ km2, là một trong những tỉnh có mật độ dân số thấp nhất trong cả nước và thấp hơn nhiều so với mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc (67 người/km2) và của cả nước (246 người/km2).
1.2. Lao động:
Số lao động trong độ tuổi của tỉnh năm 2009 là 274.917 người chiếm 61% dân số. Hiện nay số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 241.350 người, trong đó hầu hết là lao động nông, lâm nghiệp chiếm tới 80,6% tổng số lao động đang làm việc; lao động công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 6,3% và lao động khu vực dịch vụ chiếm 13,1%. Số lao động chưa có việc làm hiện còn khá lớn, khoảng 22.584 người, chiếm 8,56% tổng số lao động có khả năng lao động.
Tình hình thu hút đầu tư:
Tính đến 20/9/2012 trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 01 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 129,000 USD. Từ trước đến nay có 2 doanh nghiệp đã và đang hoạt động: Công ty thức ăn chăn nuôi liên doanh Việt - Trung; Công ty cổ phần DOMINE Kochay. Tại Công ty thức ăn chăn nuôi liên doanh Việt - Trung đối tác bên nước ngoài đã chuyển nhượng hết cổ phần cho đối tác phía Việt nam; dự án còn lại mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư năm 2011 đang triển khai thực hiện các bước tiếp theo của dự án.
III) Tiềm năng đầu tư:

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Tài nguyên đất
Điện Biên có tổng diện tích tự nhiên là 955.409ha. Trong đó hầu hết đất đai có độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng. Hơn 70% quỹ đất của tỉnh có độ dốc trên 250, chỉ thích hợp cho phát triển lâm nghiệp, trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng. Diện tích có độ dốc từ 15 - 250 chiếm 25%. Đất có độ dốc dưới 150 chỉ chiếm 4% quỹ đất của tỉnh, trong đó khoảng 75% có tầng dày trên 50 cm...
Diện tích đất đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp của Điện Biên có 479.817ha, chiếm 50,2% diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp là 111.749ha, chiếm 11,6% diện tích tự nhiên; đất sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp là 367.398 ha, chiếm 38,5% và mặt nước nuôi trồng thủy sản là 670ha, chiếm 0,07% diện tích tự nhiên của tỉnh.

Tài nguyên rừng và đất rừng
Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm năng rừng và đất rừng rất lớn. Toàn tỉnh có tới 757.937ha rừng và đất rừng, chiếm 79,3% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh.
Tài nguyên nước và thủy năng
Với lượng mưa hàng năm khá lớn, hệ thống ao hồ và sông suối nhiều
(toàn tỉnh có hơn 10 hồ lớn và hơn 1.000 sông suối lớn nhỏ phân bố tương đối đồng đều trong tỉnh) nên nguồn nước mặt ở Điện Biên rất phong phú theo 3 hệ thống sông chính là sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông. Sông Đà ở phía Bắc tỉnh (giáp với tỉnh Lai Châu mới) bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) qua Mường Tè (tỉnh Lai Châu) - thị xã Mường Lay - Tuần Giáo rồi chảy về tỉnh Sơn La. Sông Đà (trên địa bàn Điện Biên có các phụ lưu chính là Nậm Ma, Nậm Bum, Nậm Pô, Nậm Mức... với tổng diện tích lưu vực khoảng 5.300 km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều ghềnh, nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà và sông Nậm Rốm. Chất lượng nước tương đối cao, ít bị ô nhiễm.
Về tiềm năng thủy điện: Do nằm ở vùng núi cao, nhiều sông suối, lắm thác ghềnh, lưu lượng dòng chảy mạnh... nên tỉnh Điện Biên có tiềm năng thuỷ điện rất phong phú và đa dạng về quy mô. Theo khảo sát sơ bộ, tại Điện Biên có nhiều điểm có khả năng xây dựng nhà máy thuỷ điện, trong đó đáng chú ý là các điểm: Thuỷ điện Mùn Chung trên suối Nậm Pay, thuỷ điện Mường Pồn trên suối Nậm Ty, thuỷ điện Nậm Mức trên sông Nậm Mức, thuỷ điện Nậm He trên suối Nậm He, thuỷ điện Nậm Pồ, trên suối Nậm Pồ, hệ thống thuỷ điện trên sông Nậm Rốm, Nậm Khẩu Hu...
Tuy nhiên việc khai thác các tiềm năng này còn ở mức khiêm tốn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh mới có một số nhà máy thuỷ điện như Nà Lơi 9.300 KW, thác Bay 2.400 KW, Thác trắng 6.200 KW, Nậm Mức 44 Mw được xây dựng và khai thác khá hiệu quả.
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở Điện Biên chưa được thăm dò đánh giá kỹ. Qua tra cứu các tài liệu lịch sử liên quan cho thấy, Điện Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại, gồm các loại chính như: nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt và kim loại màu,... nhưng trữ lượng thấp và nằm rải rác trong tỉnh.
Đến nay trên địa bàn tỉnh đã xác định được 32 điểm quặng sắt và kim loại, 14 điểm mỏ than, trong đó có 2 điểm đã được đánh giá trữ lượng cấp C1 và nhiều điểm khoáng sản VLXD, nước khoáng... nhưng chưa được thăm dò đánh giá sâu về trữ lượng và chất lượng. Sơ bộ cho thấy, các khoáng sản chính ở Điện Biên gồm có:
Về khoáng sản kim loại: có sắt, chì, chì - kẽm, nhôm, đồng, thủy ngân...
- Sắt có phân bố rải rác ở các huyện Điện Biên, Tuần Giáo và Mường Chà với quy mô nhỏ, chỉ ở mức điểm quặng và chưa xác định được trữ lượng.
- Chì - kẽm phân bố tập trung quanh huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, Tủa Chùa và thành phố Điện Biên Phủ. hiện nay có điểm quặng chì kẽm ở khu vực Tuần Giáo đang hoạt động.
- Đồng qua khảo sát sơ bộ phát hiện mỏ đồng ở khu vực Chà Tở huyện Mường Chà với trữ lượng khá lơn nhưng chưa được thăm dò đánh giá cụ thể.
- Nhôm và nhôm - sắt có triển vọng ở xã Phình Sáng huyện Tuần Giáo với trữ lượng cấp P khoảng 40 - 50 triệu tấn.
KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI:
Đường bộ: Điện Biên cách thủ đô Hà nội 500 km theo đường bộ. Trong đó đoạn Quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Sơn La dài 320 km đã được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô đường cấp III, đoạn từ Sơn La đến Điện Biên đang được nâng cấp xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp IV, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2007.
- Giao thông đối ngoại có 3 trục chính là quốc lộ 279 kéo dài nối với tỉnh Phoong Sa Ly của Lào, đường Núa Ngam – Mường Lói nối với tỉnh Luông Phra Bang của nước CHDCND Lào và đường vành đai biên giới từ Chung Chải – A Pa Chải nối với huyện Giang Thành – Vân Nam Trung quốc.
- Giao thông nội tỉnh: Các trung tâm huyện đều nằm trên các tuyến tỉnh lộ và quốc lộ giao thông đi lại thuận tiện, 103/106 xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã.
- Đường hàng không: Điện Biên có sân bay Điện Biên Phủ được đầu tư nâng cấp năm 2004 hiện đang khai thác đường bay Hà Nội – Điện Biên với tần suất trung bình 2 chuyến máy bay ATR72/ngày, định hướng trong thời gian tới sẽ tiếp tục nâng cấp để trở thành sân bay có hoạt động quốc tế tiểu vùng.
Hệ thống cấp điện:
Toàn bộ 9 trung tâm hành chính cấp huyện đã được sử dụng điện từ lưới điện quốc gia qua đường truyền tải 110 KV tuyến Sơn La – Điện Biên, thời gian tới sẽ tiếp tục đầu tư khép kín mạng truyền tải từ Mường Tè (Lai Châu) sang Mường Nhé để đảm bảo cấp điện khi một trong 2 đường truyền tải có sự cố; hiện nay có 76/106 xã phường được sử dụng điện lưới quốc gia với số dân được sử dụng điện khoảng 65% dân số.
Hệ thống cấp nước:
- Các khu đô thị trong tỉnh đều đã được cấp nước trong đó có thành phố Điện Biên Phủ, huyện Tuần Giáo, Tủa Chùa được cấp nước đã qua xử lý công nghiệp.
- Khu vực nông thôn có khoảng 57% dân số được cấp nước bằng giải pháp công trình.
Hệ thống thông tin liên lạc:
- Tất cả trung tâm các khu đô thị đều đã được phủ sóng điện thoại di động, trung tâm các xã đã được cung cấp dịch vụ điện thoại cố định.
- Tại thành phố Điện Biên Phủ và một số trung tâm huyện đã có dịch vụ Internet băng thông rộng (đường truyền tốc độ cao ADSL), các trung tâm huyện thị khác có thể truy cập Internet qua đường truyền dial up.
Hạ tầng khu công nghiệp:
Hiện Tại Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt quy hoạch khu công nghiệp Đông Nam thành phố Điện Biên Phủ với quy mô 60 ha, dự kiến sẽ đầu tư hạ tầng để xây dựng theo quy hoạch trước năm 2010.