CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TRUNG TÂM XÚC TIẾN ĐẦU TƯ PHÍA BẮC

Video

Cao Bằng

I) Điều kiện tự nhiên:

1) Vị trí địa lý:
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 322 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23007'12" - 22021'21" vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông- tây là 170 km, từ 105016'15" - 106050'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang). Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300m so với mặt nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.
2) Địa hình:
Địa hình Cao Bằng chia cắt mạnh và phức tạp, hình thành 4 tiểu vùng kinh tế sinh thái: tiểu vùng núi đá vôi ở phía bắc và đông bắc chiếm 32%, tiểu vùng núi đất ở phía tây và tây nam chiếm 18% tiểu vùng núi đất thuộc thượng nguồn sông Hiến chiếm 38%, tiểu vùng bồn địa thị xã Cao Bằng và huyện Hoà An dọc sông Bằng chiếm 12% diện tích tự nhiên của tỉnh
3) Khí hậu:
Khí hậu Cao Bằng mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc. Có tiểu vùng có khí hậu á nhiệt đới. Đặc điểm này đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây, còn phong phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản như dẻ hạt, hồng không hạt, đậu tương có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng… mà nhiều nơi khác không có điều kiện phát triển.

II) Nguồn nhân lực và các chỉ tiêu kinh tế:
1) Nhân lực:
Dân số toàn Tỉnh là 510.084 người.
Số người trong độ tuổi lao động : 340,96 nghìn người.
Tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động 24%.
Mức lương tối thiểu: 730.000 đ/người/ tháng quy định tại NĐ 28/2010 NĐ – CP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Chính Phủ.
2) Các chỉ tiêu kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng bình quân trên 11%/ năm
GĐP bình quân đầu người đạt 605 USD
Cơ cấu kinh tế theo ngành: công nghiệp – xây dựng: 21,15%; Thương mại – dịch vụ: 45,65%; Nông – Lâm nghiệp: 33,2%
Tổng kim ngạch xuất khẩu: 76 triệu USD.
3)Tình hình thu hút đầu tư :
Đến 20/9/2012 tỉnh Cao Bằng có 12 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 26,125,000 USD. Bước đầu thu hút và góp phần giải quyết việc làm cho trên 300 lao động mỗi năm góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, hướng vào sản xuất hàng hoá gắn với thị trường. Đời sống nhân dân dần được cải thiện. III) Tiềm năng đầu tư:
Khí hậu và tài nguyên nước
Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc. Có tiểu vùng có khí hậu á nhiệt đới. Đặc điểm này đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây, còn phong phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản như dẻ hạt, hồng không hạt, đậu tương có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng… mà nhiều nơi khác không có điều kiện phát triển.
Tài nguyên nước
-        Hệ thống sông suối chính gồm sông Bằng, sông Gâm, sông Neo, sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng với lưu lượng nước tương đối dồi dào.
-        Nguồn nước mặt và nước ngầm có trữ lượng khá và chất lượng tương đối tốt. Nguồn nước mặt tương đối dồi dào, có tiềm năng để phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ.
-        Tiềm năng phát triển thuỷ điện của tỉnh rất dồi dào, ước tính trữ lượng khoảng 600-700MW.

Tài nguyên rừng
Tổng diện tích rừng Cao Bằng là 321.200 ha với trữ lượng lên tới vài triệu m3 và hàng tỷ cây tre, nứa, trúc với trên 1000 ha. Dẻ Trùng Khánh là một loại đặc sản, sản lượng gỗ khai thác đạt 4000 m3 và 4,7 triệu cây tre, trúc, nứa (2005).
Rừng tự nhiên còn một số loại gỗ quí, lâm thổ sản quí như sa nhân, bạch truật, ba kích, hà thủ ô v.v; ngoài ra còn một số động vật như hươu, nai, lợn rừng, một số loài chim....
Tiềm năng du lịch
Du lịch nổi tiếng của Cao Bằng phải kể đến di tích lịch sử Pác Bó gắn liền quê hương cách mạng với thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh; rừng Trần Hưng Đạo gắn liền với lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, thành nhà Mạc và rất nhiều di tích lịch sử quan trọng khác.
Bên cạnh đó Cao Bằng còn nhiều điểm, khu danh lam thắng cảnh thu hút khách du lịch như thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thăng Hen, khu bảo tồn sinh thái Phia Oắc-Phia Đén, khu nước khoáng Tân An, một số làng nghề dệt thổ cẩm, nghề rèn và những làn điệu hát Si, hát Lượn v.v. của đồng bào các dân tộc thiểu số.
CƠ SỞ HẠ TẦNG
Bưu chính viễn thông
Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển tương đối nhanh, đến 2005 đã có 07 máy điện thoại/100 dân, tất cả các xã đều có nhà văn hoá bưu điện. Thông tin liên lạc trong và ngoài tỉnh được thực hiện nhanh chóng và thuận lợi
Thông tin di động:  Hịện có 03 mạng thông tin di động hiện VinaPhone, MobilePhone, Viettel. Sắp tới các nhà cung cấp dịch vụ di động sẽ triển khai mạng Sfone, EVN,...trên địa bàn tỉnh.
Internet: VNN 1260, VNN1269, truy cập tốc độ cao (ADSL) đã lắp đặt và đưa vào sử dụng tại Trung tâm Thị xã Cao Bằng từ cuối năm 2004, hiện nay đã triển khai thêm thêm 5 điểm truy cập tại Đề Thám, Hoà An, Hà Quảng, Quảng Uyên và Phục Hoà.
Hệ thống điện
Điện lực Cao Bằng quản lý gần 85 km đường dây tải điện 110 kV, hơn 600 km đường dây 35 kV, phục vụ 13/13 huyện thị.
Ngoài nguồn điện nhận từ lưới điện trung ương, ĐLCB đã đầu tư xây dựng lại các nguồn phát của địa phương như Nhà máy Thuỷ điện Suối Củn - Thị xã Cao Bằng, Thuỷ điện Nà Tẩu - Quảng Hoà, Thuỷ điện Thoong Cót - Trùng Khánh... đặc biệt tỉnh đang xây dựng nhà máy thuỷ điện Nà Loà, đây là nhà máy thuỷ điện lớn nhất của tỉnh từ trước đến nay để phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt ở địa phương.
Giao thông
Hệ thống đường bộ có quốc lộ 3 và Quốc lộ 4 đã được cải tạo, nâng cấp. Đặc biệt là các tuyến đường đi vào các cửa khẩu để giao lưu kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc,
Đến nay, hệ thống giao thông phát triển tốt đáp ứng được nhu cầu vận tải hàng hoá, hành khách nội tỉnh. Đặc biệt, tại các cửa khẩu ở các huyện giáp tuyến biên giới, hệ thống giao thông phát triển tạo thành một vành đai nhằm đảm bảo cho an ninh quốc phòng và giao lưu quốc tế.
Tài chính ngân hàng
Hiện nay Cao Bằng có Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông, ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàng chính sách xã hội là những cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động tài chính ngân hàng trên địa bàn. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng đã đủ sức để huy động vốn, cho vay đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế, còn đáp ứng các dịch vụ Ngân hàng với tiêu chuẩn mới dịch vụ tiền gửi, dịch vụ phone Banking, home Banking; dịch vụ rút tiền tự động ATM…