CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TRUNG TÂM XÚC TIẾN ĐẦU TƯ PHÍA BẮC

Video

Hải Phòng

I) Điều kiện tự nhiên

1) Vị trí địa lý:
Thành phố Hải Phòng nằm ở phía biển Đông Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 120 km. Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 ở Việt Nam, và sở hữu một hải cảng lớn nhất khu vực phía Bắc. Với diện tích là 1.519 km2 bao gồm hai huyện đảo: Cát Hải và Bạch Long Vĩ. Hải Phòng toạ lạc tại khu vực đồng bằng sông Hồng với độ cao trung bình: 0,7 - 1,7 m so với mực nước biển.
2) Địa hình:
Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển, chia ra làm hai dãy chính:
Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu
Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo gồm hai nhánh:
Nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng, Núi Đèo
Nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi
Chính vì địa thế đồng bằng ven biển ,nên một nửa diện tích đất thành phố là đất mặn,đất phèn,làm cho rễ cây hay bị thối,mục nát,không bám vững vào đất,khi có gió bão rất hay bị ngã đổ,gây thiệt hại lớn về kinh tế thành phố.
3) Khí hậu thời tiết:
Thời tiết Hải phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Tuy nhiên, Hải Phòng có một chút khác biệt so với Hà Nội về mặt nhiệt độ và thời tiết. Do cạnh biển, thành phố này ấm hơn 1 độ vào mùa đông và mát hơn 1,2 độ vào mùa hè.Ngoài ra, thành phố trồng rất nhiều cây nên không khí ở đây kể cả vào ngày trời nóng vẫn rất thoáng đãng và trong lành, các đường phố có nhiều bóng cây râm mát
II) Dân số và các chỉ tiêu kinh tế:

1) Dân số
Hải Phòng ngày nay bao gồm 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 quận (Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh), 8 huyện (An Dương, An Lão, Bạch Long Vĩ, Cát Hải, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo). Dân số thành phố là trên 1.904.000 người, trong đó số dân thành thị là trên 847.000 người và số dân ở nông thôn là trên 990.000 người. (theo số liệu điều tra dân số năm 2009). Mật độ dân số 1.250 người/km2.
Số người ở độ tuổi lao động là 936.000 người, trong đó: số người tốt nghiệp đại học và cao đẳng là 25.000 người, công nhân kỹ thuật cao 120.000 người.
2) Tình hình thu hút đầu tư:
Tính đến 20/9/2012, Hải Phòng có 359 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 7,170,371,821 USD. Năm 1995, khu vực FDI chỉ chiếm 1,6% của tổng GDP của thành phố. Tỷ lệ này đã tăng lên nhanh chóng, đạt mức 11,2% của năm 1998, 13,4% trong năm 1999 và tăng lên 14,9% trong năm 2000. Các năm từ 2001- 2003 đều tăng qua các năm 15% - 16%, năm 2011 ước đạt 15,4%. Trong giai đoạn 1990 - 2011, cơ cấu GDP theo nhóm, ngành của Hải Phòng có biến đổi theo hướng tỷ trọng của công nghiệp-xây dựng và nhóm dịch vụ tăng nhanh chóng. Tổng số lao động FDI tăng dần qua các năm: 1995 là 4.417 người, 2000 là 10.294, 2006 là 34.252 và tăng lên 65.953 người trong năm 2011. Thu nhập bình quân của lao động VN bình quân 158,3 USD/người/tháng ( năm 2011).

III) Cơ sở hạ tầng:
Thành phố Hải Phòng nằm ở phía biển Đông Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 120 km. Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 ở Việt Nam, và sở hữu một hải cảng lớn nhất khu vực phía Bắc. Với diện tích là 1.519 km2 bao gồm hai huyện đảo: Cát Hải và Bạch Long Vĩ.
Hải Phòng toạ lạc tại khu vực đồng bằng sông Hồng với độ cao trung bình: 0,7 - 1,7 m so với mực nước biển.
Hải Phòng là một khu vực đồng bằng ven biển rộng lớn thuận lợi phát triển kinh tế biển và là khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình: 23 – 24 oC, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600 - 1.800 mm, độ ẩm trung bình: 85% - 86%
Hải Phòng là một trung tâm giao thông buôn bán và thương mại của miền Bắc Việt Nam nối liền các tỉnh phía Nam với thị trường thế giới thông qua hệ thống cảng biển. Tất cả các tỉnh giao thông buôn bán với Hải Phòng bằng đường bộ, đường sắt và đường thuỷ, đường biển cũng như là đường hàng không. Với khoảng cách rất gần Trung Quốc đã cho phép các nhà đầu tư dễ dàng đi lại giữa hai quốc gia từ vị trí chiến lược này.
Hệ thống cảng biển
Cảng Hải Phòng là một cảng có số lượng hàng hoá lớn nhất trong tất cả các cảng của khu vực phía Bắc Việt Nam. Cảng được trang bị các cơ sở vật chất hiện đại và các thực tiễn an toàn kỹ thuật nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về giao thông & mậu dịch. Lượng hàng hoá được ước tính trong giai đoạn 2001-2003 là 8,5 - 12 triệu tấn/ năm. Dự án được phê chuẩn đối với cảng Container Chùa Vẽ sẽ làm cho Cảng này trở thành khu chu chuyển hàng hoá lớn nhất và hiện đại nhất trong khu vực phía Bắc với công suất khoảng 500.000 tấn/ năm.
Xuất phát từ Cảng Hải Phòng, chúng ta có thể vận chuyển hàng hoá tới cảng biển trên toàn thế giới thông qua đường biển hoặc giao thông trong nội bộ tới các khu vực kinh tế của Việt Nam cũng như là các tỉnh phía Nam Trung Quốc thông qua đường thuỷ, đường sắt hay đường bộ một cách nhanh chóng và có hiệu quả cao
Hệ thống bến đậu:
Cảng có 17 khu vực neo đậu cho các tầu thuyền ra vào cảng với chiều dài 2.700 m và độ sâu khoảng 8,5 m sát cạnh các kho Container. Thêm vào đó, hệ thống cảng biển bao gồm 9 điểm hạ neo cho tàu có trọng tải tối đa 50000 DWT trong khu vực vùng tàu Hạ Long - Hòn Gai và 3 điểm hạ neo cho tàu có trọng tải lên tới 40000 DWT.
Các kho chứa hàng:
Diện tích là khoảng 600,000 m2 dùng cho công việc chứa hàng, 200,000 m2 dành cho Container và 400, 000 m2 dành cho các kho dự trữ ngoài trời (Thép, trang thiết bị, hàng hoá).
Hệ thống nhà kho
Ðã có sẵn khoảng 51,000m2 kho bãi. Các kho bãi được chia ra thành nhiều khu thuận tiện cho việc chứa hàng và vận chuyển. Ga bốc xếp Container có diện tích 7,500m2
Phương tiện bốc xếp hiện đại:
Tất cả các phương tiện phục vụ bốc xếp đều có sẵn. Phương tiện bao gồm hệ thống hai giàn cần trục, đoàn xe chở Container trọng tải từ 2.5 - 42 tấn, bệ cần trục trọng tải: 5 - 42 tấn, một cần trục di động có trọng tải 50 tấn , một máy đóng gói tự động với công suất 4000 tấn hàng/ ngày, một giàn cần trục nổi có trọng tải 85 tấn, một ga cân hàng có trọng tải 80 tấn

Cơ sở hạ tầng:
Mạng lưới giao thông đường bộ:
Mạng lưới giao thông đường bộ tại Hải Phòng rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng tới Hà Nội và các tỉnh miền Bắc khác dọc quốc lộ 5 và quốc lộ 10.
Quốc lộ 5 có chiều dài 102 km, chiều rộng 23,5 m với 4 làn đường cho xe cơ giới và 2 làn đường cho phương tiện xe thô sơ. Ðây là một trong những tuyến đường hiện đại nhất Việt Nam. Quốc lộ 5 được nối với quốc lộ 1 vì thế các phương tiện có thể vận chuyển hàng tới các tỉnh giáp biên giới như (Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai) hoặc qua Hà Nội tới thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác ở phía Nam Việt Nam.
Quốc lộ 10 nối Hải Phòng với các mỏ than lớn và địa điểm du lịch nổi tiếng là vịnh Hạ Long ở Quảng Ninh và nhiều các tỉnh Duyên Hải từ Thái Bình tới Thanh Hoá. Quốc lộ này còn nối cảng Hải Phòng, các tỉnh miền Duyên Hải với Quốc lộ 1 tuyến Bắc-Nam.
Mạng lưới giao thông đường thủy nội địa:
Nhờ có 1 hệ thống gồm 5 nhánh sông, Hải Phòng đã trở thành một trong những trung tâm lớn phục vụ cho mạng lưới giao thông đường thuỷ nội địa, lưu thông hầu hết các cảng thuộc các tỉnh trong khu vực miền Bắc. Mạng lưới này đã lưu thông khoảng 40% lượng hàng hoá trong khu vực miền Bắc Việt Nam.
Hệ thống đường sắt:
Tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai nối liền với Côn Minh (tỉnh Vân Nam - Trung Quốc) đã làm cho việc vận chuyển hàng tới miền Nam Trung Quốc trở nên nhanh chóng.
Tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội cũng đã góp phần quan trọng trong mạng lưới giao thông đường sắt tới thành phố Hồ Chí Minh.
Giao thông hàng không:
Sân bay chính của thành phố Hải Phòng là sân bay Cát Bi, cách trung tâm thành phố 5km có thể tiếp nhận máy bay Airbus 320 hoặc các loại máy bay có trọng tải tương tự. Sân bay hiện nay được sử dụng cho các chuyến bay trong nước tới thành phố Hồ Chí Minh, Ðà Nẵng và Hà Nội. Từ các thành phố này đều các chuyến bay ra quốc tế.
Trong tương lai, đường bay của sân bay Cát Bi sẽ được nâng cấp để tiếp nhận các loại máy bay lớn hơn.