CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TRUNG TÂM XÚC TIẾN ĐẦU TƯ PHÍA BẮC

Video

Quảng Ninh

1. Vị trí địa lý

Là tỉnh có vị trí địa lý kinh tế đặc biệt quan trọng và thuận lợi cho phát triển:
Biên giới chung với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa dài 13208 km, có cửa khẩu quốc tế Móng Cái và hai cửa khẩu quốc gia là Hoành Mô (Bình Liêu) và Bắc Phong Sinh (Hải Hà), tiếp giáp một thị trường có dân số đông, kinh tế phát triển năng động của tỉnh Quảng Tây ( Trung Quốc).
Bờ biển dài 250 km với nhiều tiềm năng phát triển các ngành kinh tế biển.
Đầu mối quan trọng của các hệ thống giao thông chính khu vực phía Bắc Việt Nam: Đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không.
Giầu tài nguyên khoáng sản: than đá (trữ lượng 3,5 tỷ tấn, chiếm trên 90% sản lượng khai thác than cả nước); đá vôi (trữ lượng 3,1 tỷ tấn); cát thủy tinh, đất sét; đá cao lanh; các mỏ nước khoáng thiên nhiên...
*      Khí hậu
 - Quảng Ninh là vùng nhiệt đới - gió mùa tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 22,9oC.
     Độ ẩm trung bình 82%.Lượng mưa hàng năm vào khoảng từ 1.700mm đến 2.400mm. Mưa tập trung nhiều vào mùa hạ, nhất là vào tháng 7 và tháng 8.
*      Thuỷ văn và hải văn
      -  Mức thuỷ triều trung bình 2,5m, không xuất hiện thiên tai lớn như sóng thần, động đất, núi lửa ...
      - Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ. Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh "con nước" và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường.

2. Tình hình thu hút đầu tư
Tính đến thời điểm 20/9/2012, trên địa bàn tỉnh có 100 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 4,503,839,554 USD. Khu vực FDI tăng dần qua các thời kỳ trong đóng góp vào tổng vốn đầu tư phát triển công nghiệp. Nếu như năm 2006, khu vực ĐTNN chỉ chiếm 0,9% tổng vốn đầu tư thì đến năm 2011 khu vực này đã chiếm 8,1% tổng vốn. Bên cạnh đó, khu vực FDI cũng thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của tỉnh như công nghiệp chế biến thực phẩm (dầu thực vật, sản xuất bột mỳ), khai thác chế biến khoáng sản: than Vietmindo, sản xuất volfram, đất hiếm, sản xuất điện v.v....Khu vực có vốn FDI đã tạo ra việc làm cho trên 10.000 lao động (khoảng 95% là lao động Việt Nam). Năm 2011 nộp thuế 718 tỷ (chiếm 7% tổng thu nội địa).
3. Nhân lực:
Dân số năm 2012 là: 1.117,2 nghìn người.
Tỷ trọng dân số thành thị chiếm 48,6%.
Lao động trong độ tuổi có trên 586,4 nghìn người, đang học tập và làm việc trong các ngành, lĩnh vực của tỉnh.
      Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35,3%, trong đó đào tạo nghề đạt 24,8%, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 25% (Chỉ đứng sau Hà Nội)
Hiện tại có 25 cơ sở đào tạo, bao gồm: 18 trường đào tạo cao đẳng, trung học dạy nghề của Trung ương và địa phương thuộc các lĩnh vực: Văn hóa - Nghệ thuật - Du lịch, Mỏ, Sư phạm, Y tế, Công nghiệp, Xây dựng, Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Giao thông cơ điện....Đang triển khai xây dựng trường Đại học Hạ Long.

Mức lương  (USD/tháng)
+ Quản lý: (500 ~ 700USD)
+ Kỹ thuật viên, kỹ sư: 350 USD
+ Nhân viên văn phòng (kế toán, thư ký, tổng hợp): 350 USD
+ Lao động có tay nghề: 100 USD
+ Lao động không chuyên:60 USD
+ Mức lương tối thiểu: 60USD

4. Chi phí đầu tư
Hệ thống thông tin
Hiện nay, hệ thống bưu chính viễn thông đã đạt tiêu chuẩn quốc tế, có thể thoả mãn được bất cứ nhu cầu và hình thức thông tin nào của khách hàng.
Về Bưu chính: Đảm bảo cho hầu hết các xã trong tỉnh nhận được thư trong ngày. Các dịch vụ mới về Bưu chính được phát triển với diện rộng như: Dịch vụ tiết kiệm bưu điện, dịch vụ khai giá…
Về viễn thông: Mạng viễn thông được trang bị các thiết bị kỹ thuật số với công nghệ tiên tiến, hiện đại đa dịch vụ, thông tin di động đã phủ sóng 14/14 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Có hệ thống Internet băng thông rộng.
Hệ thống cung cấp điện
Lưới điện quốc gia đã đến tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Hiện đã có 8 trạm 110KV, với tổng công suất 176MVA và có 2 trạm 220KV, với tổng công suất 250KV. Ngoài ra, còn có mạng lưới điện phân phối các cấp điện áp 35 KV, 10 KV và 6 KV (chủ yếu là 35 KV và 6 KV).
Theo quy hoạch, tại Uông Bí, Hạ Long và Cẩm Phả sẽ hình thành một trung tâm nhiệt điện lớn nhất của Việt Nam với tổng công suất thiết kế khoảng hơn 5.000 MW. Dự tính đến năm 2010 có thể hoàn thành đưa vào vận hành với tổng công suất 3.500 MW.
Hệ thống cung cấp nước
Hiện tại, Quảng Ninh có 6 nhà máy nước lớn với tổng công suất thiết kế đạt 170.000 m3/ngày đêm. Theo quy hoạch của UBND tỉnh thì tổng cấp nước các khu đô thị của tỉnh đến năm 2010 đạt khoảng 277.900 m3/ngày đêm và định hướng đến năm 2020 là trên 489.500 m3/ngày đêm. 
Nhà máy nước Ðồng Ho: công suất thiết kế 20.000 m3/ngày đêm.
Nhà máy nước Diễn Vọng: công suất thiết kế 120.000 m3/ngày đêm.
Nhà máy nước Mạo Khê: công suất thiết kế 12.000 m3/ngày đêm.
Nhà máy nước Móng Cái: công suất thiết kế giai đoạn I 5.000 m3/ngày đêm.
Nhà máy nước Uông Bí: công suất thiết kế 8.000 m3/ngày đêm.
Nhà máy nước Quảng Yên: công suất thiết kế 5.000 m3/ngày đêm.
Giá thuê đất và giá điện nước theo giá Nhà nước quy định.