CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TRUNG TÂM XÚC TIẾN ĐẦU TƯ PHÍA BẮC

Video

Bắc Ninh

1. Vị trí địa lý

Vị trí địa lý: Bắc Ninh là tỉnh nằm trong châu thổ sông Hồng, thuộc vùng Đồng bằng Bắc Bộ, vùng Thủ Đô Hà Nội và tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; phía Đông giáp tỉnh Hải Dương và phía Tây giáp Thủ đô Hà Nội.
Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý rất thuận lợi: cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 30km; cách sân bay Quốc tế Nội Bài 40km; cách cảng biển Hải Phòng và cảng biển Quảng Ninh 110km; cách cửa khẩu Lạng Sơn-Trung Quốc 115Km. Hệ thống giao thông kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ 1A nối Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; đường cao tốc 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; quốc lộ 38 nối Bắc Ninh –Hưng Yên- Hải Dương - Hải Phòng; trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; mạng đường thuỷ sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng. Đây là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu của Bắc Ninh với bên ngoài.
Tổ chức hành chính: Tỉnh Bắc Ninh được tái lập từ 01/01/1997, gồm  01 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện: thành phố Bắc Ninh, các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Yên Phong, Thuận Thành, Tiên Du và  Thị xã Từ Sơn.
Diện tích: Diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh:  822,7 km2.
Khí hậu: Bắc Ninh thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,3oC. Lượng mưa trung bình từ 1.400 – 1.600mm/năm. Tổng số giờ nắng trong năm từ 1.530 – 1.776 giờ.
Tài nguyên khoáng sản: Nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch ngói, gạch chịu lửa; đá cát kết; đá sa thạch và than bùn, với trữ lượng từ 60.000 – 200.000 tấn.
Tài nguyên nhân văn, du lịch: Bắc Ninh có tiềm năng văn hoá phong phú, đâm đà bản sắc dân tộc, nơi hội tụ của kho tàng văn hoá nghệ thuật đặc sắc với những làn điệu dân ca Quan họ trữ tình đằm thắm, tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng.
Bắc Ninh có 62 làng nghề  với hơn 200 ngành nghề như: đúc đồng (Đại Bái - Gia Bình), sắt thép (Đa Hội - Từ Sơn), gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ - Từ Sơn)… đã và đang phát triển thành thế mạnh và tiềm năng lớn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh.
2. Một số chỉ tiêu kinh tế
Trong 5 năm (2001 – 2005), kinh tế - xã hội của tỉnh liên tục phát triển, quy mô nền kinh tế năm 2005 lớn gấp 1,9 lần so với năm 2000 và gấp 2,8 lần so với năm 1997(năm đầu tái lập tỉnh). Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 14,0%/năm, đứng thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và 1,8 lần mức bình quân chung của cả nước.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng công nghiệp-XDCB trong tổng GDP đã tăng mạnh từ 35,7% năm 2000 lên 47,1% vào năm
2005; dịch vụ từ 26,3% lên 27,2%; nông nghiệp giảm từ 38% xuống còn 25,7%.
-Công nghiệp: Luôn giữ mức tăng trưởng cao, tăng bình quân 26,1%/năm.
-Nông nghiệp: Sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng bình quân 5,8%/năm
-Thương mại và dịch vụ:  Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2005 tăng gấp 2,75 lần so với năm 2000, tăng bình quân 22,4%/năm.
Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 13,5%/năm, nhập khẩu tăng bình quân 24,1%/năm.
-Lao động việc làm và đời sống xã hội: Đã tạo việc làm cho 74,5 nghìn lao động, tăng bình quân 10,15%/năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 21,6% năm 2000 lên 28% năm 2005.

STT

Địa bàn

Mức giá(1000đ/m2)

Mức giá(USD/m2)

1

TP Bắc Ninh

700

43.75

2

Huyện Từ Sơn

490

30.63

3

Huyện Tiên Du

490

30.63

4

Huyện Yên Phong

343

21.44

5

Huyện Thuận Thành

343

21.44

6

Huyện Quế Võ

343

21.44

7

Huyện Gia Bình

245

15.31

8

Huyện Lương Tài

245

15.31


Tình hình thu hút đầu tư:
Tính đến tháng 9/2012, tỉnh Bắc Ninh có 270 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,125,427,260 USD. Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trong GDP toàn tỉnh tăng dần qua các năm: năm 1998 mức đóng góp của khu vực này ở mức rất khiêm tốn: 0,3 tỷ đồng chiếm 0,016%, đến năm 2006 đạt 9,7%, năm 2010 đạt 28,2% và năm 2011 đạt 4.984,5 tỷ đồng chiếm 22,4% toàn tỉnh. ĐTNN góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động. Năm 2006, doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm cho 7.699 người lao động, chiếm 12% tổng số lao động trong các doanh nghiệp toàn tỉnh. Đến năm 2010, đã tăng lên 36.800 người, chiếm 30,9% tổng số lao động trong các doanh nghiệp toàn tỉnh. Năm 2011, đã tạo công ăn việc làm cho 27.040 lao động. Số lao động ngoại tỉnh chiếm khoảng 60%. Số doanh nghiệp khu vực FDI chiếm khoảng 3% tổng số doanh nghiệp hoạt động nhưng đã tạo việc làm cho khoảng 30,9 % tổng số lao động trong các doanh nghiệp toàn tỉnh