CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TRUNG TÂM XÚC TIẾN ĐẦU TƯ PHÍA BẮC

Video

Thái Bình

1. Vị trí địa lý

Thái Bình là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Vị trí địa lý: 20,17 - 20,44 độ vĩ bắc; 106,06 - 106,39 độ kinh đông. Phía bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Thành phố Hải Phòng. Phía tây và tây nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam. Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ.
Thái Bình là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Vị trí địa lý: 20,17 - 20,44 độ vĩ bắc; 106,06 - 106,39 độ kinh đông. Phía bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Thành phố Hải Phòng. Phía tây và tây nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam. Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ.
Diện tích tự nhiên: 1.542,24 km2 chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả nước. Từ Tây sang Đông dài 54 km, từ Bắc xuống Nam dài 49 km. Tỉnh có 7 huyện (Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Thái Thụy, Vũ Thư) và 01 thành phố (Thành phố Thái Bình) trong đó có 284 xã, phường, thị trấn.
Về khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23-24oC (thấp nhất là 4oC, cao nhất là 38oC). Lượng mưa trung bình 1.400mm - 1.800mm. Số giờ nắng trong năm khoảng 1.600 - 1.800 giờ. Độ ẩm trung bình vào khoảng 85-90%.giờ nắng trong năm khoảng 1.600 - 1.800 giờ. Độ ẩm trung bình vào khoảng 85-90%.

2. Tình hình thu hút đầu tư
    Đến 20/9/2012, trên địa bàn tỉnh có 33 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký được luỹ kế là 256,762,206 USD. Khu vực có vốn ĐTNN đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của tỉnh và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Từ mức đóng góp trung bình 0,59% của GDP năm 2005, khu vực doanh nghiệp ĐTNN đã tăng lên 2,08% GDP năm 2009. Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận dân cư. Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ĐTNN cũng tăng lên qua từng giai đoạn, số lao động đăng ký sử dụng từ 11.000 người giai đoạn 2001-2005 đã tăng lên 34.730 người trong giai đoạn 2006-2010.

3. Nhân lực
     Dân số Thái Bình năm 2012 ước khoảng: 1 triệu 787 ngàn người. Trong đó dân số nông thôn chiếm 94,2%, dân số thành thị chiếm 5,8%; mật độ dân số 1.138 người/km2; bình quân nhân khẩu là 3,75 người/hộ; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hiện nay là 1,02%.
Nguồn lao động trong độ tuổi: 1 triệu 73 ngàn người. Trong đó lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp chiếm 74,3%, công nghiệp và xây dựng chiếm 17%, khu vực dịch vụ - thương mại chiếm 8,7%.
Lao động qua đào tạo chiếm 23,5% (Công nhân kỹ thuật và nghiệp vụ 13,5%; Trung cấp 5,5%; Cao đẳng, đại học và trên đại học 4,5%).
Hàng năm Thái Bình có khoảng 19.000 học sinh tốt nghiệp THPT, là lao động trẻ, có trình độ văn hoá, chưa có điều kiện học tiếp lên đại học. Lực lượng này có thể học tiếp ở các trường trung cấp, công nhân kỹ thuật trong tỉnh hoặc được đào tạo tại chỗ ở các đơn vị sản xuất kinh doanh trong tỉnh sẽ là nguồn nhân lực cho phát triển Kinh tế - Xã hội, trong đó có các KCN.

4. Chi phí đầu tư
* Giá thuê đất tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp:
- Khu công nghiệp Phúc Khánh (trong đó có Khu công nghiệp Đài Tín), Khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh và các cụm công nghiệp Thành phố, giá thuê đất tương đương 0,13 USD/m2/năm;
- Các khu công nghiệp: Cầu Nghìn, Gia Lễ, Sơn Hải, Sông Trà và các cụm công nghiệp huyện, giá thuê đất tương đương 0,11 USD/m2/năm;
- Khu công nghiệp Tiền Hải, giá thuê đất tương đương 0,18 USD/m2/năm;
* Giá thuê đất cho sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp ven quốc lộ ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp:
- Ven quốc lộ 39, giá thuê đất tương đương 0,16 USD/m2/năm;
- Ven quốc lộ 10, giá thuê đất tương đương 0,22 USD/m2/năm
* Giá thuê đất cho sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp ngoài các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được tính trên cơ sở khung giá đất theo quy định của UBND tỉnh ban hành hàng năm, tùy theo từng vị trí đất và quy mô dự án đầu tư. Giá thuê đất tại địa bàn huyện Thái Thuỵ, huyện Tiền Hải (ngoài khu công nghiệp) hoặc đầu tư vào các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến hàng nông thuỷ sản sử dụng nguyên liệu trong tỉnh, hoặc những dự án thuộc danh mục ưu đãi đầu tư, danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư, UBND tỉnh xem xét, quyết định đơn giá thuê đất thấp hơn nhưng không dưới 50% đơn giá thuê đất theo quy định.

+ Sông Cầu: Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 3.480 km2 Tổng lượng nước sông Cầu khoảng 4,5 tỷ m3. Hệ thống thuỷ nông của con sông này có khả năng tưới cho 24 nghìn ha lúa hai vụ của huyện Phú Bình và các huyện Hiệp Hoà, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên còn nhiều sông nhỏ khác thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng và hệ thống sông Lô. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì trên các con sông nhánh chảy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có tiềm năng thuỷ điện kết hợp với thuỷ lợi quy mô nhỏ.
Tài nguyên nước ngầm: Bên cạnh nguồn nước mặt Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn, khoảng 3 tỷ m3, nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế.
- Tài nguyên rừng:  Thái Nguyên có trên 171.688,31 ha ha đất lâm nghiệp có rừng, trong đó rừng sản xuất có diện tích là 92.181,57ha, Rừng phòng hộ có diện tích là 50.902,61 ha, rừng đặc dụng có diên tích là 28.604,13ha. Tổng diện tích đất chưa sử dụng có trên 34 nghìn ha trong đó đất đồi núi chưa sử dụng là 22.747,26ha

Tài nguyên khoáng sản: 
Nhóm nguyên liệu cháy gồm than đá và than mỡ với tổng trữ lượng gần 100 triệu tấn (hiện còn lại khoảng 63,8 triệu tấn), đứng thứ hai trong cả nước, chất lượng tương đối tốt. Các mỏ có trữ lượng lớn là Khánh Hòa (46 triệu tấn), Núi Hồng (15,1 triệu tấn); hai mỏ Làng Cẩm và Âm Hồn mỗi mỏ có trữ lượng trên 3,5 triệu tấn than mỡ.
Nhóm khoáng sản kim loại gồm cả kim loại đen như sắt, mangan, titan và kim mầu loại như chì, kẽm, đồng, niken, nhôm, thiếc, vonfram, altimoan, thuỷ ngân, vàng… Khoáng sản kim loại là một trong những ưu thế của Thái Nguyên không chỉ so với các tỉnh trong vùng mà còn có ý nghĩa đối với cả nước.
Nhóm khoáng sản phi kim loại gồm pyrit, barit, phốt-pho-rít, graphit…, trong đó đáng chú ý nhất là phốt-pho-rít với tổng trữ lượng khoảng 89.500 tấn.
Khoáng sản vật liệu xây dựng: Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi… trong đó sét xi măng có trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn. Sét ở đây có hàm lượng các chất dao động như SiO2 từ 51,9 đến 65,9%, Al2O3 khoảng từ 7-8%, Fe2O3 khoảng 7-8%. 
Cơ sở hạ tầng:
Hệ thống cấp thoát nước, điện, viễn thông:
Về cấp thoát nước: Thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công đã có nhà máy nước với công xuất 30.000 m3/ngày đêm, đảm bảo nhu cầu về khối lượng cũng như chất lượng nước cho toàn thành phố và thị xã; thành phố Thái Nguyên đang thực hiện dự án thoát nước và xử lý nước thải bằng nguồn vốn vay của Chính phủ Pháp. Ngoài ra, tại các thị trấn và thị tứ trong tỉnh cũng đang dần được thực hiện đầu tư hệ thống cấp nước sạch.
Hệ thống điện: Thái Nguyên được cung cấp đủ nhu cầu điện từ mạng lưới quốc gia và nhà máy nhiệt điện của tỉnh.
Hệ thống thông tin viễn thông: Hệ thống bưu chính viễn thông mở rộng phủ sóng đến 100% các xã.
Giao thông nội bộ:
Tổng chiều dài đường bộ của Tỉnh là 2.753 km, trong đó Quốc lộ là 183 km, tỉnh lộ là 105,5km, huyện lộ là 659 km; đường liên xã là 1.764 km; hệ thống tỉnh lộ và quốc lộ đều được dải nhựa phân bố khá hợp lý trên địa bàn tỉnh, phần lớn các đường đều xuất phát từ trục dọc quốc lộ 3 đi trung tâm các huyện lỵ, thị xã, các khu kinh tế, vùng mỏ, khu du lịch và thông với các tỉnh lân cận. Quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên, chạy qua thành phố Thái Nguyên, nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Các quốc lộ 37, 18, 259 cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là mạch máu giao thông quan trọng và thuận lợi nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh.
Hệ thống đường sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận tiện, đảm bảo phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nước như: tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua tỉnh nối Thái Nguyên với Hà Nội; tuyến đường sắt Lưu Xá - Khúc Rồng nối với tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều, tuyến đường sắt này cũng nối tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh (đến Ga kép) và tỉnh Quảng Ninh; tuyến đường sắt Quán Triều - Núi Hồng rất thuận tiện cho việc vận chuyển khoáng sản. 
Thái Nguyên có 2 tuyến đường sông chính là: Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 km; Đa Phúc - Hòn Gai dài 211 km. Trong tương lai sẽ tiến hành nâng cấp và mở rộng mặt bằng cảng Đa Phúc, cơ giới hóa việc bốc dỡ, đảm bảo công suất bốc xếp được 1.000 tấn hàng hóa/ngày đêm. Ngoài ra, Thái Nguyên có 2 con sông chính là Sông Cầu và sông Công sẽ được nâng cấp để vận chuyển hàng hóa.
Tiềm năng du lịch:  Thái Nguyên có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên và nhân tạo như hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, núi Văn, núi Võ; các bảo tàng văn hoá, lịch sử và các di tích kiến trúc nghệ thuật đình, đền, chùa, hang động như đình Phương Độ, hang Thần Sa, đền thờ Đội Cấn, ATK Việt Bắc (khu ATK đã được Chính phủ đặt kế hoạch quy hoạch thành khu du lịch lịch sử quốc gia).
Nhìn chung, tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái gắn với cảnh quan thiên nhiên và văn hoá dân gian và du lịch gắn với văn hoá, lịch sử:  Thái Nguyên nằm sát Hà Nội nên có nhiều cơ hội nằm trong các tuyến, tour du lịch quốc gia.