CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TRUNG TÂM XÚC TIẾN ĐẦU TƯ PHÍA BẮC

Video

Bắc Giang

I. Điều kiện tự nhiên:

1. Vị trý địa lý:

Bắc Giang nằm ở toạ độ địa lý từ 21007’ đến 21037’ vĩ độ bắc; từ 105053’ đến 107002’ kinh độ đông; nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Đông Bắc với các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội. Phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây giáp Thủ đô Hà Nội và tỉnh Thái Nguyên. Tỉnh có 9 huyện và thành phố Bắc Giang, trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao, với 231 xã, phường, thị trấn. Vị trí của tỉnh nằm cạnh tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh) rất thuận lợi cho việc phát triển và liên kết vùng. TP Bắc Giang (thủ phủ của tỉnh) cách Thủ đô Hà Nội 50km; cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan với Trung Quốc 110 km; cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km; cách cảng biển Hải Phòng và cảng biển nước sâu Cái Lân-Quảng Ninh 130 km. Từ đây có thể dễ dàng thông thương với các nước trong khu vực và trên thế giới.

2. Địa hình:

Bắc Giang có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía bắc với châu thổ sông Hồng ở phía nam. Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là núi đồi nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều. Khu vực phía bắc tỉnh là vùng rừng núi. Bắc Giang nằm kẹp giữa hai dãy núi hình cánh cung và cùng mở ra như nan quạt, rộng ở hướng Đông Bắc, chụm ở phía Tây Nam (tại vùng trung tâm tỉnh), là: cánh cung Đông Triều và cánh cung Bắc Sơn, phần giữa phía Đông tỉnh có địa hình đồi núi thấp là thung lũng giữa hai dãy núi này. Phía Đông và Đông Nam tỉnh là cánh cung Đông Triều với ngọn núi Yên Tử nổi tiếng, cao trung bình 300-900 m so với mặt biển, trong đó đỉnh cao nhất là 1.068 m; phía Tây Bắc là dãy núi cánh cung Bắc Sơn ăn lan vào tới huyện Yên Thế, cao trung bình 300-500 m, chủ yếu là những đồi đất tròn trĩnh và thoải dần về phía đông nam. Tại vùng núi phía đông bắc tỉnh, giáp với Quảng Ninh có khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ rộng 7153 ha với hệ động vật và thực vật phong phú, bao gồm 236 loài cây thân gỗ, 255 loài cây dược liệu, 37 loài thú, 73 loài chim và 18 loài bò sát.

3. Khí hậu, sông ngòi:

Trên địa bàn Bắc Giang có 374 km sông suối, trong đó ba sông lớn là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu. Sông Lục Nam chảy qua vùng núi đá vôi nên quanh năm nước trong xanh. Sông Thương bắt nguồn từ hai vùng có địa hình và địa chất khác nhau nên nước chảy đôi dòng: bên đục, bên trong.

Ngoài sông suối, Bắc Giang còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần. Hồ Cấm Sơn năm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, dài 30 km, nơi rộng nhất 7 km và chỗ hẹp nhất 200m. Hồ Cấm Sơn có diện tích mặt nước 2.600 ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3.000 ha. Hồ Khuôn Thần có diện tích mặt nước 240 ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng thông 20 tuổi. Người ta có thể dạo chơi trên hồ Khuôn Thần bằng thuyền đạp chân hoặc thuyền gắn máy, vừa cùng người Sán Chỉ, Cao Lan, Nùng bản địa hát soong hao, vừa thưởng thức những sản phẩm độc đáo của địa phương như hạt dẻ, mật ong và rượu tắc kè. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng 23 – 240C, nhiệt độ thấp nhất : 40C, nhiệt độ cao nhất 390C . Độ ẩm không khí trung bình 83%. Địa hình phong phú bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng, tạo ra nhiều cảnh đẹp và đa dạng sinh học. Địa chất, thuỷ văn thuận lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp lớn.

4. Tài nguyên đất đai:

Diện tích tự nhiên của tỉnh là: 382,7 ngàn ha, trong đó có 127,2 ngàn ha đất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản; 133,4 ngàn ha đất lâm nghiệp; 122,1 ngàn ha đất ở, đất chuyên dùng và đồi núi trọc. Đây là thế mạnh của tỉnh trong việc thu hút đầu tư các khu công nghiệp lớn, xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá và nuôi trồng thuỷ sản. Quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp và đô thị nằm liền kề với các trục giao thông quan trọng, thuận tiện cho việc thông thương và đi lại. Do địa hình đa dạng phong phú, Bắc Giang có nhiều tiềm năng phát triển các khu du lịch sinh thái như: hồ Cấm Sơn; hồ Khuôn Thần; Khu bảo tồn Tây Yên Tử; Suối Mỡ. Ngoài ra có thể xây dựng các sân gôn, khu nghỉ dưỡng...

5. Tài nguyên rừng:

Rừng của Bắc Giang có hệ động thực vật phong phú, nhiều nguồn gen quý; có vị trí quan trọng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và đời sống nhân dân. Trữ lượng gỗ khoảng 3,5 triệu m3 và 500 triệu cây tre, nứa.

II. Nhân lực:

Hiện Bắc Giang có dân số khoảng hơn 1,61 triệu người, với 25 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 90%. Tổng số lao động xã hội hơn 1,0 triệu người (chiếm 63% tổng dân số), chủ yếu là lao động trẻ, đây là tiềm năng lớn của tỉnh. Bắc Giang được đánh giá là địa phương có hoạt động giáo dục phát triển vào loại khá trong cả nước, toàn tỉnh có 801 trường học, với 43 vạn học sinh từ mẫu giáo đến cao đẳng (chiếm 27% dân số). Năm 2009 toàn tỉnh có trên 8.300 học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, xếp thứ 14 toàn quốc. Hiện có 2 trường Cao đẳng đào tạo, 1 trường cao đẳng nghề, 1 trung tâm hỗ trợ đào tạo và cung ứng nhân lực, 1 trung tâm ngoại ngữ tin học, 4 trường trung cấp nghề và 56 cơ sở dạy nghề... đáp ứng phần lớn nhu cầu nguồn nhân lực cho các khu, cụm công nghiệp tại địa phương. Đang tiếp nhận thủ tục đầu tư 2 trường đại học (Bắc Đô và Sông Thương), 1 trường cao đẳng nghề vốn ODA Hàn Quốc; nâng cấp Trường Cao đẳng sư phạm thành trường cao đẳng đa ngành; nâng cấp Trường Trung học kỹ thuật công nghiệp thành trường cao đẳng nghề.

III. Kết cấu hạ tầng Kinh tế - Xã hội

1. Hệ thống giao thông:

Bắc Giang là tỉnh có hệ thống giao thông khá đa dạng với 3 loại hình: đường bộ, đường sông và đường sắt được phân bố hợp lý.

Hệ thống đường bộ: gồm Quốc lộ (5 tuyến - 278 km), đường tỉnh (18 tuyến - 390 km), đường huyện (71 tuyến - 562 km), đường đô thị (29 tuyến - 32,47 km), đường xã (2.190 km). Quốc lộ 1A mới đã hoàn thành, nối với nhiều tuyến nội tỉnh, tạo ra những vị trí thuận lợi cho việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp. Trong tương lai gần, QL-1A, đoạn Lạng Sơn - Bắc Giang- Bắc Ninh sẽ được xây dựng thành đường cao tốc, tạo cơ sở phát triển cho hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội -Hải Phòng.
Hệ thống đường sắt: Bắc Giang có 2 tuyến đường sắt quan trọng chạy qua, đó là tuyến Hà Nội- Lạng Sơn (thuộc tuyến đường sắt Bắc- Nam, thông thương sang Trung Quốc qua cửa khẩu Hữu Nghị Quan) và tuyến Lưu Xá - Kép - Quảng Ninh (thuộc tuyến Thái nguyên - Quảng Ninh) nối các tỉnh nội địa với các cảng biển. Hệ thống đường sông: Ba con sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh là sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam - nằm trong hệ thống sông Thái Bình, tạo nên một mạng lưới giao thông thuỷ thuận tiện. Bắc Giang có hệ thống cảng phục vụ tương đối tốt, đang triển khai xây dựng cảng container Đồng Sơn (cách TP Bắc Giang khoảng 6km) và một số kho ngoại quan, cảng nội địa tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu.

Cùng với vị trí thuận lợi, ba hệ thống giao thông tạo cho Bắc Giang có lợi thế nổi trội trong việc liên kết vùng, từ Bắc Giang có thể dễ dàng thông thương với các vùng kinh tế trọng điểm trong nước và quốc tế.

2. Hệ thống cấp điện, nước, thông tin.

Hệ thống lưới điện Quốc gia được kéo đến từng xã, bao gồm các cấp điện áp 220, 110, 35, và 22KV, theo quy hoạch, đang chuẩn bị đầu tư xây dựng thêm các trạm biến áp. Hiện nay, Bắc Giang hoàn thiện nhà máy nhiệt điện Sơn Động – 220MW và chuẩn bị khởi công nhà máy nhiệt điện Bố Hạ - 50 MW. Hệ thống điện lực đảm bảo phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

Hệ thống cấp nước sạch đã được đầu tư và đáp ứng yêu cầu sử dụng nước cho các khu đô thị, khu công nghiệp...

Hệ thống Bưu chính Viễn thông được chú trọng đầu tư và không ngừng phát triển, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin. Hiện tại, sóng điện thoại di động đã được phủ hầu hết địa bàn tỉnh, điện thoại cố định kết nối được đến tất cả các xã; dịch vụ Internet tốc độ cao (ADSL) đảm bảo cung cấp đến 2/3 số xã; dịch vụ kênh thuê riêng (Leased Line) đảm bảo cung cấp đến trung tâm các huyện, thành phố, các khu cụm công nghiệp, khu dân cư tập trung. 100% xã, phường, thị trấn có điểm bưu điện phục vụ. Các dịch vụ bưu chính như: dịch vụ chuyển phát nhanh EMS, bưu phẩm, bưu kiện trong nước và quốc tế; bưu chính uỷ thác; bưu phẩm không địa chỉ; điện hoa; dịch vụ chuyển tiền, tiết kiệm bưu điện vv... được mở rộng trên địa bàn toàn tỉnh.

3. Hệ thống Thương mại - Dịch vụ - Y tế:

Hệ thống thương mại nội tỉnh phân bố đều khắp đến huyện và đến các xã, góp phần đẩy nhanh lưu thông hàng hoá. Hệ thống tín dụng ngân hàng, bảo hiểm đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.  Toàn tỉnh có 16 bệnh viện, trong đó tuyến tỉnh có 2 bệnh viện đa khoa và 5 bệnh viện chuyên khoa bao gồm: phụ sản, y học cổ truyền, tâm thần, lao và bệnh phổi, điều dưỡng và phục hồi chức năng, còn lại 9 bệnh viên đa khoa tuyến huyện. 100% xã, phường của tỉnh đã có trạm y tế, với quy mô mỗi trạm có 4-6 cán bộ.

IV.Tình hình thu hút đầu tư

Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến 20/9/2012, tỉnh có 99 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,582,820,697 USD. Các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong những năm gần đây. Năm 2011, tổng giá xuất khẩu của các dự án đạt 400 triệu USD, chiếm 52,6% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh; 6 tháng đầu năm 2012 đạt 435,9 triệu USD chiếm 77,8% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: linh kiện điện tử, máy tính và phụ kiện điện tử, sản phẩm may mặc. Khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 45.000 lao động trực tiếp và hàng trăm lao động gián tiếp góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDP đầu người trong tỉnh tăng lên hàng năm.